Chi tiết - Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch

Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam ghi nhận Đại tướng Võ Nguyên Giáp như một hình mẫu sáng ngời về ý chí kiên trung, tư duy quân sự sắc bén và nhân cách cộng sản mẫu mực. Nhìn lại hành trình gần một thế kỷ cống hiến không mệt mỏi vì độc lập, tự do của Tổ quốc, có thể thấy rõ hai mạch nguồn chủ đạo nuôi dưỡng, định hình và bồi đắp nên tầm vóc lớn lao của Đại tướng đó là: cội nguồn văn hóa - truyền thống từ quê hương và hành trình trọn đời học tập, rèn luyện, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

Cội nguồn quê hương và bản lĩnh kiên cường của người con miền Trung nắng gió

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ra tại một vùng quê giàu truyền thống yêu nước thuộc dải đất miền Trung nắng gió (ở làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình nay là xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Trị). Sớm chứng kiến cảnh đồng bào chịu ách thống trị, bóc lột dưới gót giày thực dân và phong kiến, người thanh niên Võ Nguyên Giáp đã sớm hình thành ý chí phản kháng, nung nấu quyết tâm đứng lên đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc.

Năm 1925, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tiếp thu tư tưởng cách mạng sớm từ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí tích cực tham gia phong trào bãi khóa tại trường Quốc học Huế. Tiếp nối hành trình dấn thân, năm 1927, đồng chí gia nhập Đảng Tân Việt cách mạng; năm 1930, tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Những hoạt động yêu nước sục sôi này đã lọt vào tầm ngắm của mật thám Pháp. Cuối năm 1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giữ, giam cầm tại nhà lao Thừa Phủ (Huế) và chịu những trận đòn tra khảo khốc liệt của kẻ thù. Nhờ sự can thiệp của Hội Cứu tế đỏ Pháp, cuối năm 1931, đồng chí được trả tự do.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Rời nhà lao thực dân, mất liên lạc với tổ chức, đồng chí không nản lòng mà ra Hà Nội tiếp tục con đường học tập và hoạt động thực tiễn. Tại Trường tư thục Thăng Long, đồng chí vừa dạy học, viết báo tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng trong giới thanh niên, học sinh, vừa miệt mài theo học Đại học Luật và Kinh tế. Quá trình này không chỉ mở rộng tri thức uyên bác mà còn rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, chuẩn bị những tiền đề thiết thực cho giai đoạn đấu tranh vũ trang sau này.

Năm 1940, với bí danh Dương Hoài Nam, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Phạm Văn Đồng được Trung ương cử sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Bước ngoặt lịch sử này định hình toàn bộ con đường hoạt động cách mạng và sự nghiệp quân sự của cuộc đời ông. Tháng 11/1941, trở về Cao Bằng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí cùng các đồng chí khác tích cực xây dựng cơ sở cách mạng, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, lôi cuốn đồng bào các dân tộc tham gia hoạt động cứu nước, tổ chức và phụ trách Ban xung phong Nam tiến nhằm mở đường nối căn cứ địa Cao Bằng với các tỉnh miền xuôi.

Tháng 12/1944, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân – tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đồng chí đã thể hiện tài năng chỉ huy xuất sắc khi nhanh chóng dẫn dắt đội quân non trẻ giành thắng lợi giòn giã trong hai trận đầu tiên tại Phai Khắt và Nà Ngần. Trên các cương vị Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thành viên Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, thành viên Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Tư lệnh Việt Nam giải phóng quân, đồng chí có những cống hiến mang tính quyết định vào thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Người học trò xuất sắc, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 19/12/1946, tiếng súng kháng chiến toàn quốc bùng nổ, mở ra chặng đường gian lao nhưng vinh quang của dân tộc. Trên cương vị Tổng Tư lệnh Quân đội kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã cùng Trung ương Đảng hoạch định đường lối và trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm (1945 - 1954) đi đến thắng lợi hoàn toàn. Với nhãn quan chiến lược sắc bén và tư duy chỉ đạo tài tình, Đại tướng đã trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch trọng điểm có ý nghĩa cục diện như Chiến dịch Biên giới (1950), Trung du (1950), Đồng bằng (1951), Hòa bình (1951 - 1952), Tây Bắc (1952) và Thượng Lào (1953), từng bước bẻ gãy âm mưu xâm lược của thực dân Pháp.

Đỉnh cao của nghệ thuật quân sự ấy được thể hiện trọn vẹn tại Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng trao trọn quyền quyết định trên chiến trường, Đại tướng đã đưa ra một quyết định mang tính bước ngoặt và dũng cảm bậc nhất trong lịch sử chiến tranh giữ nước: chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Dưới sự chỉ huy kiệt xuất của Tổng Tư lệnh, các đại đoàn quân đội và lực lượng vũ trang đã đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của thực dân Pháp, làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Thắng lợi vĩ đại này đã buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt ách đô hộ và giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trước âm mưu chia cắt lâu dài đất nước của đế quốc Mỹ, Đại tướng tiếp tục sát cánh cùng Bộ Chính trị và Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cách mạng dân tộc chủ nghĩa ở miền Nam. Trải qua muôn vàn thử thách, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, Đại tướng cùng tập thể Bộ Chính trị đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi trọn vẹn, thu non sông về một mối, mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội cho cả nước.

Nhà lưu niệm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là địa chỉ đỏ giáo dục tinh thần cách mạng.

Bên cạnh dấu ấn của một nhà quân sự lỗi lạc tầm cỡ thế giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp suốt đời tự hào là người học trò xuất sắc, gần gũi và ưu tú nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Được sống, chiến đấu và làm việc bên cạnh Người trong suốt những năm tháng tiền khởi nghĩa, Cách mạng Tháng Tám và chín năm kháng chiến trường kỳ, Đại tướng đã được Người trực tiếp giáo dục, rèn luyện và giao phó nhiều trọng trách lớn lao trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng luôn lấy tư tưởng, đạo đức, tác phong và lối sống của vị Lãnh tụ thiên tài làm kim chỉ nam cho mọi hành động; coi trọng việc tổng kết thực tiễn để ngày càng thấu triệt sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng chí là một trong những người tiên phong nghiên cứu, đúc kết và viết về Hồ Chí Minh cùng tư tưởng của Người một cách cơ bản, toàn diện, hệ thống, đặt những viên gạch hồng vững chắc cho nền móng của bộ môn khoa học Hồ Chí Minh học.

Thông qua ba chuyên luận có giá trị nền tảng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, “Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh” và “Thế giới đổi thay, tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi”, Đại tướng không chỉ hệ thống hóa di sản của Người mà còn góp phần đưa tư tưởng ấy thấm sâu vào đời sống thực tiễn, trở thành ngọn đuốc soi đường cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Những lời căn dặn tâm huyết của Đại tướng rằng điều cốt lõi nhất trong học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là phải “làm theo và làm đúng” tư tưởng của Người đến nay vẫn giữ nguyên vẹn giá trị thời sự, định hướng sâu sắc cho các thế hệ hôm nay và mai sau. 

Không chỉ là nhà quân sự thiên tài, trên các cương vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước như Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục đóng góp to lớn vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Ngay cả khi nghỉ hưu từ năm 1991, với các cương vị Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Hội Khuyến học Việt Nam và nhiều tổ chức xã hội khác, Đại tướng vẫn dành trọn tâm huyết cho sự phát triển của đất nước.

Trọn vẹn cuộc đời gắn bó với sự nghiệp cách mạng, ở Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn sáng ngời phẩm chất cao quý của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cộng sản. Dù trong thuận lợi hay khó khăn, Đại tướng vẫn giữ vững niềm tin thủy chung, son sắt với Đảng và nhân dân. Đúng như tâm niệm lúc sinh thời của Đại tướng: “Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó”. Sự kết tinh giữa cội nguồn văn hóa quê hương Quảng Trị kiên cường và tinh thần, đạo đức Hồ Chí Minh đã tạc nên tượng đài vĩnh cửu về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lòng dân tộc và lịch sử nhân loại.
                                                                             

  Quỳnh Như
 

Đang truy cập: 1

Hôm nay: 285

Tổng lượt truy cập: 9.261.941